Phân phối bán máy chế biến gỗ Funing | Hold | MAS Hà Nội

Nhân dịp đầu năm mới  Đinh Dậu 2017, Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Aquavie xin trân trọng gửi đến toàn thể Quý khách hàng lời Chúc mừng năm mới, kính chúc Quý khách cùng gia đình một năm mới AN KHANG – THỊNH VƯỢNG – VẠN SỰ NHƯ Ý. Cảm ơn sự đồng hành, hợp tác và ủng hộ của Quý khách đã dành cho chúng tôi trong suốt thời gian qua.

anh-chuc-tet

Kính chúc Quý khách cùng gia đình một năm mới AN KHANG – THỊNH VƯỢNG – VẠN SỰ NHƯ Ý

Năm Bính Thân 2016 vừa qua cùng với sự nỗ lực làm việc không mệt mỏi của toàn thể gia đình Aquavie, đồng thời nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ vô cùng quý báu của Quý khách đã giúp chúng tôi xây dựng được hình ảnh, thương hiệu, chất lượng sản phẩm và dịch vụ để trở thành đơn vị cung cấp máy chế biến gỗ số  ...

Đọc thêm
Điều khoản thương mại

ĐIỀU I : PHẠM VI CUNG CẤP

Hai bên đồng ý bán, mua máy gia công gỗ mới 100%, được nhập khẩu nguyên chiếc từ Trung Quốc.

ĐIỀU II : THANH TOÁN

Phương thức thanh toán: Bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Số lần thanh toán và hạn thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng.

ĐIỀU III: ĐỊA ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC GIAO NHẬN HÀNG

- Địa điểm giao nhận hàng do quý khách hàng cung cấp

- Miễn phí vận chuyển trong thành phố Hà Nội (ngoài địa điểm trên quý khách sẽ chịu 100% tiền vận chuyển)

- Hàng hóa được đóng gói theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm cử nhân viên kỹ thuật qua để hướng dẫn quý khách lắp ráp, chạy thử theo đúng Catalogue kèm theo.

- Hàng sẽ được giao sau khi ký Hợp đồng và chúng tôi nhận được tiền thanh toán của quý khách theo quy định tại Điều II của Hợp đồng.

ĐIỀU IV: BẢO HÀNH

- Bảo hành máy trong thời gian 12 tháng phần cơ và 6 tháng phần điện.

- Chúng tôi chịu trách nhiệm bảo hành do lỗi kỹ thuật của nhà sản xuất. Ngoài ra không chịu trách nhiệm bảo hành lỗi do điện yếu, không ổn định, thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, xưởng cháy, bão lụt, do vận hành sai quy cách gây cháy, chập hoặc những chi tiết bào mòn dễ hỏng (Nh­ư: lưỡi cưa, dây cu loa …).Trong trường hợp quý khách có nhu cầu về linh kiện thay thế hoặc các chi tiết bào mòn dễ hỏng, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý khách với giá cả thỏa thuận.

- Ngoài địa điểm Hà Nội quý khách sẽ chịu chi phí lắp đặt, bảo hành, ăn, ở, đi lại cho nhân viên kỹ thuật .

(Số điện thoại Bảo hành:  04- 62948928/ 0932 319 238)

ĐIỀU V: PHẠT HỢP ĐỒNG

1. Trường hợp sau khi đã vận hành, bàn giao máy và đến hạn thanh toán nhưng Bên Mua chưa thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng theo đúng quy định tại Điều II của Hợp đồng thì Bên Bán có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, thu hồi máy và phạt Bên Mua 50% tổng giá trị hợp đồng. Khi đó mọi chi phí phát sinh, phí vận chuyển đi và về kho của Bên Bán sẽ do Bên Mua chịu trách nhiệm.

2. Trong trường hợp quá thời hạn giao hàng 30 ngày nhưng Bên Bán vẫn không có hàng giao hoặc giao không đầy đủ theo điều khoản của Hợp đồng mà không thông báo trước cho Bên Mua thì Bên Mua có quyền hủy hợp đồng, khi đó Bên Bán có trách nhiệm bồi thường cho Bên Mua 20% tổng giá tri hợp đồng.

ĐIỀU VI: ĐIỀU KHOẢN CAM KẾT

1. Trước khi các khoản tiền hàng chưa được thanh toán hết, hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán, bên bán có quyền thu hồi hàng hóa bất kỳ lúc nào mà không cần phải thông qua các thủ tục pháp lý hoặc sự đồng ý của bên mua.

2. Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản và điều kiện đã nêu trong Hợp đồng, bất kỳ sự thay đổi hay bổ sung nào cũng phải được cam kết bằng văn bản  do cả hai bên cùng ký nhận. Mọi thay đổi đơn phương đều không có giá trị pháp lý. Bên nào vi phạm Hợp đồng sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và phải đền bù mọi tổn thất gây ra cho bên bị hại. Nếu tranh chấp xảy ra trước tiên phải giải quyết bằng thương lượng,trong trường hợp không giải quyết được sẽ đưa ra Tòa án kinh tế Thành phố Hà Nội , phán quyết của Tòa án là quyết định cuối cùng của cả hai bên.

 

 

Sản phẩm dịch vụ

Lời đầu xin kính chào quý khách hàng và chúc quý khách hàng sức khỏe và thịnh vượng. Trải qua một thời gian cung cấp dịch vụ chúng tôi liên tục nhận được sự tin tưởng và ủng hộ của quý khách hàng, điều này nói lên chúng tôi đã làm tốt nhiệm vụ chức năng của mình, tuy nhiên không dừng lại ở đó chúng tôi cần phải nỗ lực hơn để cung cấp dịch vụ tốt hơn để chi ân và cảm ơn sự tin tưởng của quý khách hàng.
Với nhiều năm hoạt động, cùng với sự cộng tác của đội ngũ nhân viên có bề dày kinh nghiệm làm việc, ngoài lĩnh vực chủ chốt ra chúng tôi còn có các dịch vụ sau nhằm đáp ứng nhu cầu của quý khách hàng đặc biệt với khách hàng lần đầu tiên xây dựng nhà xưởng cũng như lần đầu tiên nhập khẩu hàng hóa thuộc ngành chế biến gỗ từ nước ngoài, bên cạnh đó chúng tôi còn cung cấp một số vật tư và linh kiện cho máy móc, ngoài ra còn có dịch vụ bảo trì và sửa chửa máy, chi  tiết như sau :
      - Tư vấn thiết kế  xây dựng nhà xưởng và lắp đặt công nghệ máy chế biến gỗ. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghành nghề với quy mô lớn hơn, máy móc được vận hành theo  quy trình công nghệ hiện đại tiết kiệm thời gian, nhiên liệu và nhân công. Với đội ngũ kỹ sư được đào tạo từ Đài Loan đảm bảo mang lại sự hài lòng cho quý khách hàng.
      - Tư vấn lựa chọn dòng máy chế biến các sản phẩm gỗ, trang trí nội thất, giúp quý khách hàng có được máy phù hợp với đơn hàng cần sản xuất, hiệu quả cao, giá thành tốt.
      - Nhận xuất nhập khẩu ủy thác các loại máy thuộc ngành sản xuất gỗ và trang trí nội thất, giúp đối tác có thể nhập khẩu dây chuyền máy móc một cách thuận lợi nhanh chóng và hiệu quả, giúp việc mua hàng ở các nước bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn.
      - Sửa chữa các loại máy móc thiết bị thuộc nghành sản xuất gỗ và trang trí nội thất, với đội ngũ kỹ thuật có kinh nghiệm làm việc lâu năm am hiểu nghành, máy móc sẽ được sửa chữa trong thời gian ngắn đạt hiệu quả cao, nhanh chóng đưa máy móc trở lại quy trình sản xuất, giảm tình trạng ứ đọng hàng khi gặp phải sự cố về máy.
      - Cung cấp các loại vật tư của máy chế biến gỗ như : Lưỡi cưa, mũi khoan, băng tải, dây curoa, giấy nhám, keo hạt …. Và các linh kiện , phụ tùng thay thế cho máy chế biến gỗ. Các sản phẩm đầy đủ các chủng loại được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Italia...
                  Hãy đến với máy chế biến gỗ Aquavie để nhận thấy sự hài lòng ! 

Quy định bảo hành

Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Aquavie xin gửi tới quý khách hàng các thông tin về chế độ bảo hành.

1. Công ty chịu trách nhiệm bảo hành máy trong thời gian 12 tháng phần cơ và 6 tháng phần điện

2. Chúng tôi chỉ chịu trách nhiệm bảo hành do lỗi kỹ thuật của nhà sản xuất. Ngoài ra chúng tôi không chịu trách nhiệm bảo hành lỗi do điện yếu, không ổn định, do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, xưởng cháy, bão lụt, do vận hành sai quy cách gây cháy, chập hoặc những chi tiết bào mòn dễ hỏng (như: lưỡi cưa, dây cu loa...). Trong trường hợp quý khách hàng có nhu cầu về linh kiện thay thế, hoặc các chi tiết bào mòn dễ hỏng, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý khách với giá cả thỏa thuận.

3. Ngoài địa điểm Hà Nội, quý khách sẽ chịu chi phí lắp đặt, bảo hành, chi phí ăn, ở, đi lại cho nhân viên kỹ thuật.

KHUYẾN MÃI CỰC SỐC

Kính gửi: Quý khách hàng!

Trước hết, cho phép Công ty Aquavie  được gửi lời cảm ơn chân thành vì sự tin dùng và ủng hộ của Quý khách hàng trong thời gian qua đã tạo động lực giúp chúng tôi ngày càng hoàn thiện và phát triển hơn.

Nhân dịp lễ Giáng sinh và chào mừng ngày Tết dương lịch 2017 và Tết Nguyên Đán Đinh Dậu, Aquavie xin trân trọng gửi đến quý khách hàng chương trình khuyến mãi “TẬN HƯỞNG GIÁ RẺ, THỎA SỨC MUA SẮM” dành cho khách hàng trên toàn quốc. Trong thời gian khuyến mãi, quý khách sẽ được chiết khấu trực tiếp bằng tiền mặt từ 2 triệu đến 20 triệu đồng  khi mua bất kỳ sản phẩm nào của chúng tôi. Quả thật là vô cùng hấp dẫn phải không nào?

Nhanh chân lên! Chương trình chỉ được áp dụng từ 20/12/2016 đến hết ngày 25/1/2017. Đừng chần chừ để vuột mất cơ hội trang bị những máy móc hữu ích và tuyệt vời nhất cho xưởng sản xuất của bạn nhé!

Hãy trải nghiệm thế giới sale off của chúng tôi để thỏa sức mua sắm mà không lo tốn tiền nào!

Bạn hãy nhớ, số Hotline của chúng tôi… luôn túc trực để nhận cuộc gọi của bạn. Các nhân viên tại cửa hàng… Đã sẵn sàng phục vụ quý khách như những thượng đế.

Việt Nam nhập khẩu gỗ nguyên liệu 2013 - 2016: Từ góc nhìn các loài nhập khẩu

Lượng gỗ tròn và xẻ (sau đây được gọi là gỗ nguyên liệu) nhập khẩu vào Việt Nam hàng năm khoảng 4-4,5 triệu m3, tương đương trên 1,5 tỉ USD về giá trị có xu hướng ngày càng tăng, nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho chế biến phục vụ xuất khẩu và cho tiêu thụ nội địa. Lượng gỗ nhập khẩu tăng cho thấy ngành gỗ của Việt Nam vẫn trên đà phát triển. 

Hàng năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 160-170 loài gỗ nguyên liệu, trong đó có 20-30 loài có số lượng nhập khẩu trên 10.000 m3/loài/năm. Sự đa dạng trong các loài nhập khẩu không chỉ thể hiện qua con số tổng số loài nhập khẩu hàng năm mà còn qua góc độ cùng một loài được nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ trong năm 2015 cùng một loài gỗ hương xẻ được nhập khẩu từ 28 quốc gia; Trong 7 tháng đầu 2016, cùng loài gỗ lim tròn được nhập khẩu từ 20 quốc gia.

Có sự biến động lớn trong các loài gỗ nhập khẩu, đặc biệt là sự suy giảm nghiêm trọng của các loài gỗ quý có tính rủi ro cao được nhập khẩu từ các nước Tiểu vùng sông Mê Kông. Suy giảm nhập khẩu từ nguồn này tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu từ các nguồn này và tới các làng nghề gỗ truyền thống có sử dụng các loài gỗ quý. Tuy nhiên, giảm cung từ các nguồn này cũng có thể  góp phần nâng cao hình ảnh của ngành chế biến gỗ xuất khẩu nói chung, từ đó góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu trong tương lai.

Hiện đang có tín hiệu về sự dịch chuyển trong cơ cấu gỗ nguyên liệu nhập khẩu các loài gỗ từ các nguồn có độ rủi ro cao sang các nguồn cung có độ rủi ro thấp. Tỉ trọng gỗ tròn nhập khẩu từ các nguồn có độ rủi ro cao giảm từ 60% trong tổng lượng gỗ tròn nhập khẩu từ năm 2013-2014 xuống còn 50% trong những năm gần đây; tỉ trọng các loài gỗ xẻ nhập khẩu từ nguồn rủi ro cao giảm từ trên 30% năm những năm 2013-2014 xuống còn khoảng trên 20% kể từ 2015 đến nay. Đây là những tín hiệu tốt, thể hiện những thay đổi tích cực của ngành gỗ trong việc đáp ứng các quy định về tính hợp pháp của gỗ tại các thị trường xuất khẩu, đặc biệt tại Mỹ và Châu Âu.

Dịch chuyển  về nguồn cung gỗ nguyên liệu cho Việt Nam còn thể hiện từ các nước Tiểu vùng sông Mê Kông sang khu vực Châu Phi. Động lực dẫn đến sự dịch chuyển này là một phần nỗ lực của một số doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn cung mới, thay thế cho nguồn cung từ khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông hiện đang ngày càng bị hạn chế. Điều này làm cho tính đa dạng của các loài gỗ nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng đa dạng hơn.

Tính đa dạng trong các loài nhập khẩu và số lượng lớn gỗ nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam hàng năm sẽ tạo ra những thách thức lớn trong việc thiết lập các cơ chế kiểm soát gỗ nhập khẩu hiệu quả trong tương lai. Để xây dựng các cơ chế hiệu quả nhằm kiểm soát tính hợp pháp của gỗ nhập khẩu đòi hỏi những cơ sở dữ liệu có liên quan đến từng loài gỗ cụ thể nhập khẩu. Điều này không chỉ đòi hỏi nỗ lực của tất cả các bên liên quan và không chỉ đơn thuần là công việc của cơ quan quản lý.

Máy chế biến gỗ Funing!

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH GỖ: Đi tìm giải pháp xứng tầm

Thị trường xuất khẩu gỗ Việt Nam trong các năm gần đây luôn tăng trưởng, ngay cả trong thời kỳ suy thoái, thì xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vẫn phát triển. Và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, cùng việc đầu tư của các công ty nước ngoài đã góp phần là tăng giá trị xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam, giúp các doanh nghiệp vừa học hỏi, vừa cọ xát. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam chưa thật sự như kì vọng.

 Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HaWa), các yếu tố thuộc về nhân lực như nguồn nhân lực còn yếu, và tay nghề yếu, khiến cho khả năng cạnh tranh lao động của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam thấp hơn. Mặt khác, khi hội nhập, lao động giữa các nước trong khối ASEAN sẽ có sự dịch chuyển cao, làm mất lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

NHỮNG ÁP LỰC CẠNH TRANH

 Việt Nam có khoảng 3.930 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó doanh nghiệp nhỏ chiếm 93%, doanh nghiệp vừa chỉ là 5.5%, và doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 1%. Đó là một thực trạng không thể thay đổi trong nhiều năm tới, có nghĩa là ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đang dựa hoàn toàn vào 93% doanh nghiệp nhỏ để phát triển và duy trì tốc độ tăng trưởng.

 Mặt khác, phân bổ của doanh nghiệp chế biến gỗ không đồng đều, đông nhất là Đông Nam bộ chiếm 54,8%;  Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng đều chiếm 7,9%; ít doanh nghiệp chế biến gỗ nhất là vùng Đông Bắc (5%) và Bắc Trung Bộ (4,7%). Vấn đề là, nguồn nguyên liệu chính cho ngành thì thường tập trung nhiều ở các khu vực có ít doanh nghiệp chế biến gỗ.

 Bên cạnh đó, ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu, tuy nhiên theo thống kê chưa đầy đủ, xung quanh khu vực Đồng Nai, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Long an, Bà Rịa có 230 DN phụ trợ như: máy móc, bao bì, thiết bị, sơn,.... trong đó máy móc thiết bị (chiếm 50%); bao bì có 23 doanh nghiệp sản xuất, đó chính là một trong những cơ sở để ngành gỗ phát triển theo chiều sâu.

 Nhưng các doanh nghiệp lại gặp một khó khăn khác trong thời gian qua là việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài, đã chuyển hàng từ nước ngoài vào Việt Nam để được hưởng lợi thế, việc này làm tăng đột biến giá trị xuất khẩu, và khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam có thể bị kiện chống bán phá giá. Mặt khác, phí vận chuyển tăng, giá cước tăng, cũng làm tăng áp lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là những vấn đề cần giải quyết trong thời gian trước mắt.

 Theo ông Hạnh, chế biến gỗ kích thích việc trồng rừng, tạo nguồn nguyên liệu hợp pháp cho ngành và thúc đẩy việc trồng rừng, chế biến gỗ không phá rừng mà làm tăng độ che phủ rừng trong suốt thập kỷ qua. Việc phát triển chế biến gỗ, thúc đẩy trồng rừng, tạo sinh kế cho người dân, và thông qua đó có thể trong tương lại bán được tín chỉ Cacbon, nên cần có chính sách hỗ trợ sát sao hơn cho ngành trong thời gian tới.

ĐI TÌM GIẢI PHÁP

 Theo ông Trần Lê Huy - Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, chế biến gỗ là một trong 7 ngành công nghiệp ưu tiên và cần có các ưu tiên cụ thể để có thể biến ngành công nghiệp chế biến gỗ thành ngành mũi nhọn.

 Theo đó, cần có quy hoạch tập trung và đầu tư phát triển vùng nguyên liệu rừng trồng và thương mại trong nước với các loài cây phù hợp với nhu cầu của thị trường, về loại gỗ, về tính hợp pháp. Và các cơ quan quản lý nhà nước cần có chính sách hợp lý để các cơ sở tư nhân, phát triển cơ sở sơ chế, xử lý bảo quản, .. trung tâm, sản giao dịch gỗ. Còn ngành gỗ  cần đặt trọng tâm nâng cao năng suất lao động và đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, để tăng sức cạnh tranh cho ngành.

 Còn ông Nguyễn Phúc - Tổng thư ký Hiệp hội chế biến gỗ Bình Dương đánh giá, doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường chính xác, định hướng phát triển sản phẩm hợp lý. Cần nhất là thay đổi tư duy sản xuất, từ qui mô nhỏ lên qui mô lớn để tăng sức cạnh tranh cho cả ngành. Điều này cần có định hướng tốt từ các cơ quan quản lý nhà nước.

 Theo ông Phạm Văn Bình, Chủ tịch hội chế biến gỗ Đồng Nai, ngành gỗ đang là ngành xuất siêu, tuy nhiên chủ yếu là các DN đầu tư nước ngoài, với lợi thế về máy móc, công nghệ, nhà xưởng. Bên cạnh đó, chi phí trung gian của ngành gỗ quá cao, khi không trực tiếp xuất khẩu được. Nếu tìm ra cách tiếp cận trực tiếp hơn, năng lực cạnh tranh của ngành sẽ tốt hơn. Ông cũng kiến nghị rằng, các cơ quan nhà nước cần có chính sách ưu tiên trong thời gian tới để tạo lợi thế cho ngành gỗ tăng trưởng. Trong thời gian tới, kêu gọi đầu tư nước ngoài giúp giá trị kim ngạch gỗ tăng hơn cũng là một biện pháp tốt.

Máy chế biến gỗ Funing !

Gỗ "vượt mặt" dầu thô hơn 3,3 tỉ USD

Mặt hàng gỗ xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2016 có giá trị vượt trội so với mặt hàng xuất khẩu chiến lược là dầu thô hơn 3,3 tỉ USD, tính chung, mỗi tháng gỗ vượt giá trị xuất khẩu của dầu thô hơn 350 triệu USD. Dự đoán, năm 2016 sẽ là năm thứ 2, giá trị xuất khẩu gỗ vượt qua mặt dầu thô kể từ năm 2015. 

Tổng cục Hải quan vừa công bố danh sách các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu trong tháng 9 và 9 tháng đầu năm của Việt Nam. Theo danh sách này, trong các mặt hàng xuất khẩu nông lâm, thủy sản, gỗ, thủy sản, rau quả là những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu trên 1 tỉ USD, trong đó thủy sản và gỗ là mặt hàng xuất khẩu đạt ngưỡng 5 tỉ USD.

nganh-go-viet-nam-ngay-cang-phat-trien

Gỗ xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua luôn đạt giá trị gia tăng cao

Đáng nói, tính đến hết tháng 9/2016, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đạt khoảng 5 tỉ USD, cao hơn rất nhiều so với con số 1,7 tỉ USD của dầu thô. Xuất khẩu dầu thô giảm 24% về lượng và 43% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, trong tháng 9/2016 xuất khẩu gỗ đạt hơn 577 triệu USD, xuất khẩu dầu thô chỉ thu về vỏn vẹn gần 200 triệu USD.

So với 9 tháng của năm 2015, mặt hàng xuất khẩu dầu thô chỉ đạt 2,9 tỉ USD, thì giá trị xuất khẩu của gỗ đã đạt trên 4,9 tỉ USD, xuất khẩu gỗ 9 tháng đầu năm tăng hơn 1,4% so với cùng kỳ năm 2015.

So sánh với các năm như 2015, dầu thô xuất khẩu đạt 2,8 tỉ USD, với 6,5 triệu tấn, thì mặt hàng gỗ xuất khẩu đã đạt 6,8 tỉ USD, tăng hơn 10,6% so với cùng kỳ, vượt trên 4 tỉ USD so với dầu thô.

Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục Hải quan, năm 2016 có thể sẽ là năm thứ 2 kim ngạch xuất khẩu gỗ tiếp tục vượt qua dầu thô về giá trị xuất khẩu, đóng góp vào cân bằng cán cân thương mại, giúp tăng tỉ lệ xuất siêu. Đây có thể là năm thứ 2 liên tiếp, mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu vượt sản phẩm dầu thô - mặt hàng xuất khẩu chiến lược nhiều năm.

So sánh với các năm trước, từ năm 2010 - đến 2014, chưa năm nào đồ gỗ xuất khẩu vượt qua dầu thô. Năm 2014, dầu thô xuất khẩu đạt 7,2 tỉ USD, thì gỗ xuất khẩu chỉ đạt 6,2 tỉ USD, 9 tháng của năm năm 2014, dầu thô 5,8 tỉ USD thì đồ gỗ cũng chỉ xuất khẩu 4.4 tỉ USD. Năm cao điểm, thời thịnh hành của dầu mỏ, xuất khẩu dầu đạt 7,2 tỉ USD, trong khi gỗ chỉ đạt 3,9 tỉ USD.

Trên thực tế, trong dự toán thu ngân sách được Quốc hội đưa ra, dầu thô được xem là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, đem lại nguồn thu ngân sách cho Nhà nước. Tuy nhiên, bối cảnh giá dầu thô thế giới sụt giảm, dầu thô xuất khẩu không còn được xem là "vựa thu ngân sách".

Trên thực tế, kim ngach xuất khẩu mặt hàng này cũng đã giảm sút mạnh trong thời gian gần đây. Cụ thể năm 2014 trung bình giá dầu thô xuất khẩu (USD/tấn - theo tính toán của Hải quan) luôn giảm hàng trăm USD/tấn. Năm 2014, trung bình giá dầu thô xuất khẩu đạt 774 USD/tấn (tổng xuất khẩu đạt 7,2 tỉ USD/9,3 triệu tấn); 9 tháng đầu năm 2015, giá trung bình còn 417 USD/tấn (tổng giá trị xuất khẩu 2,9 tỉ USD/6,9 triệu tấn), 9 tháng năm 2016, giá dầu thô trung bình chỉ đạt 326 USD/tấn (tổng giá trị xuất khẩu 1,7 tỉ USD/5,2 triệu tấn).

Theo Hiệp hội Gỗ và chế biến Lâm sản Việt Nam, hiện hầu hết gỗ nguyên liệu cho sản xuất trong nước được nhập khẩu, nguồn gỗ trong nước rất ít. Mỗi năm Việt Nam phải nhập gỗ từ 100 quốc gia trên thế giới, thị trường cung cấp nhiều nhất là Hoa Kỳ, Eu và một số nước Đông Nam Á khác. Thị trường xuất khẩu cũng chủ yếu là các nước trên. Theo con số báo cáo của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 9/2016, cả nước nhập hơn 1,29 tỉ USD gỗ nguyên liệu, thị trường chính là Mỹ, EU, Indonesia và một số nước ASEAN.

Máy chế biến gỗ Funing!

Kiến thức cơ bản vận hành máy CNC

Nếu bạn đã từng làm việc với máy gia công cắt gọt truyền thống thì bạn cũng rõ bạn cần máy CNC thực hiện nguyên công nào cho bạn. Điểm khác so với trước kia là bạn phải đóng vai kép: vừa là người vận hành máy vừa là người lập trình. Dưới đây chúng ta sẽ tiếp cận máy CNC trong vai trò lập trình viên.

Hiểu biết về nguyên lý gia công – chìa khóa thành công với bất kỳ máy CNC nào

Nếu bạn đã quen thuộc với máy gia công truyền thống (không CNC) thì sẽ không khó để bạn học sao cho máy CNC thực hiện những gì bạn muốn, tức là học lập trình, và dĩ nhiên là trong giới hạn mà máy có thể thực hiện được. Thực tế đã cho thấy những ai đã đứng máy thường cũng làm lập trình CNC tốt nhất, bên cạnh việc gá lắp và vận hành máy.

Nói cách khác chương trình CNC chỉ là công cụ làm mạnh thêm tính năng của máy gia công, và để sử dụng chúng có hiệu quả, bạn vẫn phải có hiểu biết về kết cấu máy cũng như nguyên lý cắt gọt. điều hết sức thuận lợi là giờ đây không chỉ công cụ ngày càng tốt hơn, mà bạn còn có sự hỗ trợ kỹ thuật, thông tin không chỉ của các nhà cung cấp máy mà cả phần mềm CAD/CAM, dao cụ v.v…

Từ góc độ lập trình, khi tiếp cận bất cứ máy CNC nào, bạn cần tập trung vào bốn điểm chính yếu: 1 – các phần cấu thành chính của máy; 2 – bạn phải nhớ nằm lòng các hướng (trục) chuyển động của máy; 3 – bạn phải nắm chắc các thiết bị phụ trợ gắn với máy chính và 4 – bạn phải biết những tính năng lập trình được của máy và cách thực hiện chúng.

Hiểu biết tính năng máy

Để làm việc với máy CNC bạn không cần phải là nhà thiết kế máy nhưng bạn lại cần biết máy được kết cấu như thế nào. Có như vậy bạn mới hiểu được khả năng và giới hạn của máy. Điều này cũng giống như tay đua ô tô cần biết những cơ bản về giảm xóc, phanh, hoạt động của động cơ… để phát huy tối đa sức mạnh của xe đua,

Bạn phải ghi nhớ những tính năng kỹ thuật sau đây của máy CNC mà bạn đang lập trình cho chúng:

1. Tốc độ quay tối đa của trục chính v/phút (RPM – Recycle Per Minitue )?

2. Trục chính có mấy dải (bậc) tốc độ và giới hạn của mỗi dải?

3. Công suất mô tơ trục chính và các trục chạy dao?

4. Khoảng gia công cực đại theo mỗi hướng?

5. Máy có thể làm việc được với bao nhiêu dao?

6. Kết cấu băng máy (dạng vuông, dạng mộng và/hoặc bi (bạc đạn) đũa)

7. Tốc độ chạy bàn nhanh?

8. Tốc độ cắt tối đa (fastest cutting feed rate)?

Trên đây là những câu hỏi bạn cần tự hỏi mình mỗi khi làm việc với máy CNC mới. ngoài ra thì càng biết rõ về kết cấu và tính năng máy, bạn sẽ càng vững tâm hơn khi lập trình cho nó.

Hướng (trục) chuyển động

Bạn cần biết những hướng (trục) chuyển động nào có thể lập trình được trên máy CNC. Trục chuyển động được ký hiệu bằng các chữ cái và có thể khác nhau trên các máy. Tuy vậy vẫn có một số quy ước chung, ví dụ X, Y, Z, U, V và W cho các chuyển động thẳng và A, B, C cho các trục quay. Bạn cần xem kỹ tài liệu đi kèm theo máy để chắc chắn không có lầm lẫn nào với ký hiệu cũng như hướng +, - của các trục.

Chẳng hạn nếu có lệnh X3.5 có nghĩa là chương trình yêu cầu máy chạy trục X tới tọa độ 3.5 đơn vị đo (mm hoặc inch), giả thiết chúng ta đang làm việc ở chế độ tuyệt đối, hoặc chạy trục X thêm 3.5 đơn vị đo, nếu chúng ta đang làm việc ở chế độ gia tăng.

Chuyển động quay cũng cần ký hiệu trục và góc quay (tính bằng độ). Ví dụ nếu đang ở chế độ tuyệt đối thì lệnh B45 sẽ quay quanh trục Y tới vị trí góc 450 tính từ điểm 0 của chương trình.

Điểm tham chiếu cho các trục

Hầu hết các máy CNC sử dụng một vị trí xuất phát hay tham chiếu (reference) chung cho các trục. Trong tiếng Anh vị trí này có nhiều tên gọi khác nhau: zero return position, grid zero position, home position. Dù gọi bằng cách nào đi nữa thì vị trí tham chiếu này phải được xác định rất chính xác. Thông thường mỗi khi bật máy, bàn máy sẽ tự động chạy về vị trí cơ sở này và sau đó bộ điều khiển sẽ đồng bộ lại các chuẩn với chuẩn tham chiếu của máy.

Các hệ thống phụ trợ cho máy

Bên cạnh các thành phần chính mà máy CNC nào cũng có, các hãng sản xuất có thể thực hiện các yêu cầu riêng biệt theo đặt hàng như băng tải phoi, bàn xoay NC, hệ thống làm mát bổ sung, hệ thống tự động đo bù dao, thay bàn máy tự động v.v… Các thiết bị hỗ trợ này cần được mô tả đầy đủ trong catalogue của nhà sản xuất máy hoặc của bên thứ ba (nhà sản xuất phụ độc lập).

Các chức năng lập trình được khác

Khi lập trình gia công bạn cũng cần biết những chức năng nào của máy CNC lập trình được và lệnh nào thực hiện nó. Ở những máy CNC rẻ tiền, có nhiều chức năng phải kích hoạt bằng tay qua bộ điều khiển. Còn với các máy CNC cao cấp hầu như toàn bộ các chức năng của máy có thể thực hiện qua chương trình gia công. Người vận hành máy chỉ việc gá phôi và cuối cùng là lấy chi tiết đã gia công xong ra khỏi máy. Một khi chương trình gia công đã chạy, người vận hành có thể chuyển sang làm việc khác.

Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, bạn cần đối chiếu tài liệu đi theo máy để chắc chắn các lệnh điều khiển máy giống hay có dị biệt với các lệnh bạn đã biết. Dưới đây chúng ta sẽ biết thêm một số chức năng và lệnh thường gặp nhất.

* Điều khiển trục chính. Ký hiệu “ S ” được dùng để xác định vòng quay của trục chính với đơn vị là vòng/phút (RPM – Recycle Per Minitute ). Lệnh M03 điều khiển trục quay cùng chiều kim đồng hồ, còn M04 – quay ngược chiều kim đồng hồ; M05 dừng quay. Với máy tiện, nhiều khi cần sử dụng chức năng điều chỉnh vòng quay sao cho vận tốc dài không đổi. Khi đó tốc độ trục chính được đo bằng m/phút (MPM) hoặc fit mặt/phút ( surface feet per minute – SFPM).

* Thay dao tự động (Trung tâm gia công). Ký hiệu T kèm theo số chỉ cho máy biết dao ở hộc số mấy được dùng. Hầu hết các máy sử dụng lệnh M06 để thực hiện lệnh thay dao.

* Điều khiển tưới dung dịch. Lệnh M07 phun dung dịch dạng sương, M08 tưới tràn; còn M09 ngừng phun.

* Thay bàn tự động. Lệnh M60 thường dùng cho việc thay bàn máy tự động.

Máy chế biến gỗ Funing !